Hào hùng “Kỹ thuật Phát thanh” Việt Nam

Có thể nói Kỹ thuật Phát thanh Việt Nam chính là chiếc “nôi” lớn của ngành Vô tuyến điện và cũng là của Hội Vô  tuyến - Điện tử VN. Thật vậy, nơi đây đã quy tụ và sản sinh ra nhiều thế hệ cán bộ kỹ thuât vô tuyến điện giỏi dang, phục vụ đắc lực cho ngành từ những ngày đầu của cuộc cách mạng tháng tám 1945 cũng như trải qua những năm tháng chiến tranh và  xây dựng hòa bình của đất nước sau này.  Nhiều cán bộ kỳ cựu trong ngành kỹ thuật phát thanh đã từng là những thành viên chủ chốt trong Ban vận động thành lập Hội Vô tuyến – Điện tử năm 1965, trong đó có người sau này trở thành cán bộ lãnh đạo cao nhất của Hội. 

Lời giới thiệu

 

Có thể nói Kỹ thuật Phát thanh Việt Nam chính là chiếc “nôi” lớn của ngành Vô tuyến điện và cũng là của Hội Vô  tuyến - Điện tử VN. Thật vậy, nơi đây đã quy tụ và sản sinh ra nhiều thế hệ cán bộ kỹ thuât vô tuyến điện giỏi dang, phục vụ đắc lực cho ngành từ những ngày đầu của cuộc cách mạng tháng tám 1945 cũng như trải qua những năm tháng chiến tranh và  xây dựng hòa bình của đất nước sau này.  Nhiều cán bộ kỳ cựu trong ngành kỹ thuật phát thanh đã từng là những thành viên chủ chốt trong Ban vận động thành lập Hội Vô tuyến – Điện tử năm 1965, trong đó có người sau này trở thành cán bộ lãnh đạo cao nhất của Hội. 


Ngày nay, khi ôn lại truyền thống của Hội, nhắc tới những thành viên sáng lập như bác Nguyễn Văn Tình (Trưởng ban vận động), bác Nguyễn Cung, anh Đặng Trung Hiếu v.v (các thành viên ban vận động) chúng tôi lại thấy như hiện lại những trang lịch sử của Kỹ thuật phát thanh VN nhiều năm qua.    


Một trong những người đã từng gắn bó và có nhiều kỷ niệm với ngành phát thanh VN, cũng đồng thời là một trong các ủy viên Ban vận động và trù bị thành lập Hội hiểu biết rất rõ về những sự kiện lịch sử của ngành là GS Nguyễn văn Ngọ. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm truyền thống của Hội, tạp chí Điện tử của Hội đã cử phóng viên tới gặp và ghi lại câu chuyện mà GS Ngọ đã kể về Kỹ thuật phát thanh VN, những điều mà ông đã biết, chứng kiến và từng tham dự.


Bài viết dưới đây là dựa theo lời kể của GS Ngọ - nguyên Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật Ủy Ban Phát thanh-Truyền hình Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội Vô tuyến Điện tử Việt Nam. Xin giới thiệu với các bạn đọc để biết thêm những điều mà không phải Hội viên nào của Hội Vô tuyến Điện tử VN cũng đều đã biết.                     

 

Tổng biên tập Tạp chí Điện tử

 

Lịch sử phát triển của Kỹ thuật Phát thanh Việt nam gắn liền với các giai đoạn lịch sử của đất nước. Trong bài  này chỉ nói về hai thời kỳ 1945 – 1954 và 1955 – 1975.
Thời kỳ I, từ năm 1945 đến năm 1954, nghĩa là từ khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) cho đến khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thành công. Đây là giai đoạn khởi đầu hào hùng, từ những đài phát tín chỉ vài trăm Watt lấy được của Sở Vô tuyến điện Đông Dương thuộc chính quyền bảo hộ cải biên thành những máy phát thanh công suất nhỏ để phát sóng lên không gian loan báo những sự kiện lịch sử ở cả 3 miền của nước VNDCCH vừa được thành lập, và sau đó là thông tin về tình hình chiến sự trong những năm tháng kháng chiến đầu tiên. Đây cũng là thời kỳ “thời thế tạo anh hùng”, với kỹ sư Nguyễn Văn Tình bỏ chức vụ Giám đốc Sở VTĐ Đông Dương đi theo Cách mạng, cùng một lúc chỉ đạo cả việc cải tiến máy phát báo thành phát thoại để làm ra 2 máy phát thanh đầu tiên cho Đài TNVN ở Hà Nội, và việc  sử dụng đài thu phát di động trên một xe đặc chủng để làm phương tiên vừa thông tin liên lạc vừa phát thanh cho Ủy ban Hành chánh lâm thời Nam Bộ; với kỹ thuật viên Nguyễn Cung chín năm kháng chiến bảo trì, khai thác và tăng công suất những chiếc máy phát “cải biên” ban đầu để làm đài phát sóng chính cho TNVN, sau khi Thủ đô giải phóng lại xây dựng đài phát sóng Bạch Mai, rồi cùng chuyên gia Liên Xô lắp đặt các đài phát sóng công suất lớn như Mễ Trì , VN-1, trở thành một Tổng Công trình sư kỹ thuật phát thanh được các chuyên gia nước ngoài kính nể; với ông Nguyễn Văn Hay, nhà Vô tuyến nghiệp dư (Radioamateur) tham gia kháng chiến và trở thành một trong những người đặt nền móng cho ngành thông tin liên lạc – phát thanh Nam Bộ; và còn nhiều vị nữa, nhưng ở đây chỉ nêu lên những trường hợp tiêu biểu nhất. 


Thời kỳ II từ năm 1955 đến 1975 là thời kỳ hào hùng nhất trong lịch sử phát thanh Việt nam với những kỳ tích, như khi đài Mễ trì bị máy bay B 52 của Mỹ ném bom rải thảm đánh sập thì chỉ  9 phút sau đồng bào cả nước và kiều bào ở các nước láng giềng lại thu được làn sóng 297m, truyền đi bản tin chiến thắng của quân dân Hà Nội bắn rơi máy bay B52, bắt sống giặc lái, hoặc là vào một ngày đẹp trời thính giả ở Bắc Mỹ bổng nghe hô hiệu “Đây là buổi phát thanh dành cho người Mỹ của Đài Tiếng nói Việt Nam, phát trên làn sóng Đài La Habana”. Chương trình nhanh chóng thu hút được nhiều người nghe ở Mỹ, nhận được nhiều thư thính giả, và được duy trì cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng


Thời kỳ 1945-1954


Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam ở chiến khu Việt Bắc 


Khi Cách mạng tháng Tám thành công, ba chuyên gia có trình độ kỹ thuật cao nhất ở đài Phát tín Bạch Mai (của Pháp) là kỹ sư Nguyễn Văn Tình (tốt nghiệp trường đại học quốc gia Supelec ở Paris, về nước làm Giám đốc Sở VTĐ Đông Dương thuộc chính quyền bảo hộ), Đài trưởng VTĐ bậc cao Ngô Thế Duông, và kỹ thuật viên Nguyễn Cung đi theo Cách mạng, và đã cải tiến hai máy phát báo có công suất 200W và 500W đài Bạch mai thành máy phát thanh. Qua đường dây trần truyền từ Ba Đình về số 4 Đinh Lễ, máy phát thanh 300W (công suất thoại) đã phát lên không trung lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945.


Lúc 11h30’ ngày 07/9/1945, buổi phát thanh đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phát chính thức trên hai làn sóng ngắn 31m và 41m. Để mở rộng thêm vùng phủ sóng, các cán bộ kỹ thuật còn tiếp tục thu nhặt các máy phát báo từ 20W đến 200W ở các đài điện báo của Pháp để cải tiến thành 3 máy phát thanh nhỏ nữa phát chương trình  trên các sóng 63m, 49m và 25m.


Sau ngày toàn quốc kháng chiến 20/12/1946, Đài TNVN chuyển lên chiến khu Việt Bắc. Ông Tình và ông Duông về Sở Vô tuyến điện Trung ương (thuộc Cục TTLL, bộ Quốc phòng), còn ông Nguyễn Cung phụ trách kỹ thuật chính của Đài.

 

Cố Tổng Công trình sư Tổng cục Bưu điện Việt nam Nguyễn Văn Tình (1910 - 1987), tốt nghiệp SUPELEC (Pháp), nguyên Giám đốc Sở Vô tuyến điện Đông Dương.


Để duy trì phát sóng liên tục và tăng công suất phát, Đài TNVN cử người đi Hong Kong mua đèn điện tử và các phụ tùng thay thế. Ngoài ra, sau chiến thắng ở chiến dịch biên giới Việt Bắc thông ra các nước bè bạn, Đài TNVN được Trung Quốc và các nước XHCN Đông Âu gửi tặng một số máy phát thanh công suất nhỏ. Năng lực phát sóng của Đài vì vậy tăng từ 2 sóng lên 3 sóng, công suất của máy sóng ngắn lớn nhất là 2,5KW..


GS Nguyễn Văn Ngọ kể lại: “Không biết công suất phát của Đài là bao nhiêu, nhưng vào cuối năm 1952 đi dọc đường phố chính thành phố Nongkhai (Thái Lan), qua các cửa hiệu của kiều bào đều nghe được rất rõ chương trình phát thanh TNVN”. Tất nhiên là kiều bào khi đó sắm toàn máy thu thanh loại tốt sản xuất tại Anh, dùng đèn điện tử thu nhỏ (miniature). 


Ngoài ra năm 1950, ở xã Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Sở VTĐ Liên khu 4 cũng mua phụ tùng từ Thái Lan về lắp một đài phát sóng dự phòng cho Đài TNVN ở Việt Bắc, máy này do các ông Thái Văn Thủy và Trương Văn Thoan thiết kế và lắp ráp.


Trong Nam giai đoạn 1946- 1954 còn có Đài Tiếng nói Nam bộ ở khu 5, Đài Tiếng nói Nam Bộ Kháng chiến ở Đồng Tháp Mười, Đài Phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do, và giai đoạn 1962 -1975 có Đài Giải phóng ở Tây Ninh. 


Đài Tiếng nói Nam Bộ (1946 – 1953)
Đài Tiếng nói Nam Bộ chính thức phát sóng vào mùa hè năm 1946 tại đình làng Thọ Lộc, nay thuộc địa phận thôn Thọ Lộc Đông, xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, cách trung tâm tỉnh lỵ chừng 3km, về phía tây bắc. 


Quảng Ngãi, khi đó nằm trong vùng tự do Liên Khu 5, nơi đặt trụ sở làm việc của ông Phạm Văn Đồng – đại diện Chính phủ ở miền Nam Trung Bộ cùng nhiều cơ quan của bộ máy kháng chiến miền Nam Việt Nam, là nơi được chọn để xây dựng cơ quan báo chí, phát thanh hỗ trợ cho cuộc kháng chiến ở Nam Bộ
Buổi phát thử đầu tiên vào ngày 1/6/1946, đến cuối tháng 7/1946 chính thức phát sóng với sự có mặt của ông Phạm Văn Bạch- Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ. 


Đây là đài phát thanh thứ 2 của nước Việt Nam độc lập, sau Đài Tiếng nói Việt Nam. Giám đốc đầu tiên của Đài là nhà báo Nguyễn Văn Nguyễn, người trước Cách mạng Tháng Tám từng làm thư ký tòa soạn báo L’Avant  garde, cộng tác viên của các tờ Mai, La Lutte, Dân Quyền..., hai lần bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo. Tham gia lãnh đạo đài còn có nhà cách mạng Huỳnh Văn Tiểng, ủy viên Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam, trưởng ban Tuyên truyền. 


Cuối năm 1946, đề phòng địch tập kích hoặc dội bom đánh phá, Đài Tiếng nói Nam Bộ dời lên vùng Sơn Tân, huyện Sơn Hà, nay là xã Sơn Tân, huyện Sơn Tây.
Tại Sơn Tân, Đài Tiếng nói Nam Bộ đã được lệnh của Trung ương đảm nhận nhiệm vụ tạm thay thế Đài Tiếng nói Việt Nam từ ngày 7/10/1947 đến ngày 19/12/1947, khi Đài Tiếng nói Việt Nam dời địa điểm. 


Vào tháng 6/1947, với một máy phát 60W, Đài Tiếng nói Nam Bộ lên thêm một làn sóng xưng danh là “Đài Tiếng nói Tháp Mười, tiếng nói lưu động của bưng biền Nam Bộ kháng chiến”. Hoạt động này có ảnh hưởng rất lớn trên chiến trường, khiến chỉ huy quân Pháp ở Nam Bộ cho mở nhiều đợt càn quét, truy lùng “Đài Tiếng nói Tháp Mười”, không biết rằng nơi phát sóng ở tận miền Trung, cách Sài Gòn gần 1.000 cây số. Sau khi Đài Tiếng nói Nam Bộ chuyển vào Bình Định, làn sóng này vẫn duy trì cho đến hết quý I năm 1949.


Đầu năm 1948, Đài Tiếng nói Nam Bộ chuyển vào miền núi tỉnh Bình Định, đổi tên là Đài Tiếng nói miền Nam, mật danh “Ban Tây Sơn”, trực thuộc Liên khu ủy V và Ủy ban kháng chiến hành chính miền Nam Trung Bộ. Thời gian này ông Lý Văn Sáu làm Phó giám đốc Đài Tiếng nói miền Nam.


Từ giữa năm 1953, sóng phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam đã mạnh lên, Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến và Đài Phát thanh Sài Gòn – Chợ Lớn tự do đã có chương trình ổn định, Đài Tiếng nói miền Nam giảm dần hoạt động và đến khoảng cuối năm 1953 thì dừng hẳn.


Đài Tiếng nói Nam bộ kháng chiến (1947 – 1954)
Khoảng tháng 8-1947, Xưởng Vô tuyến điện thuộc Ủy ban Kháng chiến-Hành chánh Nam Bộ về đóng tại kinh Quận, xã Hậu Thạnh, quận Mộc Hóa (nay thuộc xã Hậu Thạnh Đông, huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An). Ở đây, Xưởng được Ủy ban Kháng chiến -Hành chánh Nam Bộ giao nhiệm vụ lắp ráp một đài phát thanh mang tên Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến để phục vụ công tác thông tin tuyên truyền cho công cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới. 


Ông Nguyễn Văn Hay, thời thuộc Pháp là một nhà Vô tuyến nghiệp dư (Radioamateur), từ 1945 tham gia kháng chiến và trở thành một trong những người đặt nền móng cho ngành thông tin liên lạc Nam Bộ. Ông hồi tưởng lại "Thật tình là trước nhiệm vụ mới chúng tôi có phần lo lắng, bởi trước giờ chưa nhìn thấy cái máy phát thanh bao giờ, ngay cả sơ đồ cũng chưa có dịp nhìn thấy ..”. Nhưng rồi được sự hướng dẫn, giúp đỡ của giáo sư Lê Văn Huấn cả về vật tư và kỹ thuật, khoảng tháng 10-1947,  cũng đã lắp ráp xong cỗ máy phát thanh. 


Một chiếc ghe Tam bản mui ống 4 chèo được sử dụng làm phòng Bá âm (studio) di động để chuẩn bị cho buổi phát sóng thử nghiệm ngày 24-11-1947. Được đài VMA5 ở Cà Mau nghe thử và thông báo là buổi thử nghiệm đã thành công, ông Trần Bửu Kiếm-Tổng thư ký Ủy ban Kháng chiến -Hành chánh Nam Bộ cho phép Đài Tiếng Nói Nam Bộ Kháng chiến chính thức lên sóng vào ngày 1-12-1947.


Buổi phát sóng chính thức đầu tiên thực hiện trên chiếc ghe tam bản neo cạnh một cụm tràm bên bờ kinh Quận (nay thuộc xã Hậu Thạnh Đông- huyện Tân Thạnh, tỉnh Long An). 


Liền sau đó Đài Tiếng nói Nam Bộ (ở khu 5) đã lệnh cho ông Nguyễn Văn Tiểng cùng nhiều cán bộ kỹ thuật và cán bộ làm chương trình lần lượt về Nam để tăng cường cho Đài Tiếng nói Nam Bộ kháng chiến và Sở Thông tin Nam Bộ.


Từ 1-12-1947 cho đến buổi phát sóng cuối cùng vào ngày 1-12-1954 tại U Minh, suốt 7 năm trường Đài Tiếng Nói Nam Bộ Kháng chiến đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách ác liệt của chiến trường, thay đổi địa điểm hơn 15 lần, từ chiến khu Đồng Tháp Mười đến chiến khu U Minh để đưa tiếng nói của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Nam bộ đến với nhân dân trong cả nước và bạn bè quốc tế. Một điểm đặc sắc đáng nhớ là tuy ở chiến khu thuộc phần cực Nam của Tổ quốc, nhưng Đài Tiếng Nói Nam Bộ Kháng chiến lại là cơ quan truyền thông đầu tiên của nước VNDCCH (từ 1948) đã đưa lên sóng “Những bài hát Nga-Xô Viết vượt thời gian” như: “Ca ngợi Tổ quốc”, “Kỵ binh Kozak”, “Đỉnh núi Lênin”, “Chèo thuyền trên sông Vônga”


Đội ngũ cán bộ, nhân viên của Đài ban đầu chỉ có 10 người, sau phát triển lên 60 ~ 70 người. Chương trình phát từ mỗi ngày một buổi lên 3 buổi, từ chỗ chỉ phát tiếng Việt tiến đến phát tiếng Pháp, tiếng Khơ-me, tiếng Quảng Đông, Bắc Kinh. Những giọng ca của đài về sau đã nổi tiếng trong cả nước như: Quốc Hương, Khánh Vân, Xuân Mai.


Đài Phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do (1951- 1954)
Cuối năm 1949, đầu năm 1950, phong trào đấu tranh của nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn phát triển mạnh với quy mô đấu tranh rất rộng lớn. Trong tình hình đó, đặc khu được phép xây dựng một đài phát thanh lấy tên là  "Đài Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do".


Kế thừa kinh nghiệm xây dựng Đài Nam bộ kháng chiến, Đài này được hoàn thành nhanh chóng trong 6 tháng, và chính thức phát sóng ngày 25/01/1951. 
Cơ sở đầu tiên của Đài đặt tại cầu Cầy, xã Bình Mỹ, cách trung tâm Sài Gòn khoảng 30km. Suốt thời gian ở chiến khu, Đài chỉ dời địa điểm 3 lần trong phạm vi 10km. Trong hơn 2 năm hoạt động đầy gian khổ, thời gian tuy ngắn nhưng Đài Phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do đã để lại ấn tượng sâu đậm trong đồng bào và góp phần nhất định vào thắng lợi chung của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.


Thời kỳ 1955-1975 
Thời kỳ này bắt đầu bằng một cuộc “quần hùng tụ nghĩa”: cán bộ kỹ thuật gồm những người của Đài TNVN từ Việt Bắc về, Đài Tiếng nói Miền Nam từ khu 5, và Đài Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến từ khu 9, Đài Phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do từ Sài Gòn  ra tập kết, cùng chung tay khẩn trương lắp đặt Đài phát sóng Bạch Mai, đài phát sóng chính đầu tiên của Đài TNVN khi mới về Hà Nội.


Sau đó những chàng trai làm nghề kỹ thuật phát thanh từ miền Nam ra tập kết được phân công về các đài phát sóng của cả Đài TNVN và Tổng cục Bưu điện. Họ vừa làm vừa học tại chức ở trường Đại học Bách khoa, tốt nghiệp kỹ sư Vô tuyến điện, rồi kẻ trước người sau lại trở về phục vụ sự nghiệp giải phóng miền Nam: có người về xây dựng Đài Phát thanh Giải phóng B ở chiến khu D, có người vào công tác tại Đài Phát thanh Giải phóng A đặt tại miền Bắc, cũng có người về Cục Kỹ thuật Phát thanh đi xây dựng những đài phát sóng dự phòng để đối phó với cuộc chiến tranh bằng không quân của Mỹ. Ở những nơi xa xôi hẻo lánh, địa hình hiểm trở (thuộc Hà Tây, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai) họ đã cải tạo các hang đá và lắp đặt máy phát trong đó, rồi trụ lại để bảo trì và khai thác cho đến khi kết thúc chiến tranh chống Mỹ.


Cuối cùng, thời kỳ này kết thúc “có hậu” bằng một cuộc “huynh đệ tương phùng, quần hùng tương ngộ”, khi mà những cán bộ kỹ thuật ở chiến khu ra, ở Đài Phát thanh Giải phóng A vào, ở các đài dự phòng trên miền Bắc về, các giáo sư, giảng viên khoa VTĐ – ĐH Bách khoa theo các đoàn tiếp quản vào, và tất nhiên là cả đông đảo cán bộ kỹ thuật của chính quyền cũ còn ở lại, không di tản.


Đài Bạch Mai
Những năm gần cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, Đài TNVN được Trung Quốc, các nước XHCN Đông Âu gửi tặng một số máy phát thanh sóng trung và sóng ngắn công suất từ 1 đến 3 kW (do nhiều nước khác nhau sản xuất). 


Vì vậy, vào cuối năm 1954 khi Đài từ Việt Bắc chuyển về Hà Nội, cũng có chút vốn liếng về thiết bị để khôi phục khu phát sóng cũ của Pháp ở Cống Vọng (gọi là điện đài Bạch Mai) gồm 3 máy phát sóng ngắn mang từ chiến khu về, công suất theo thứ tự là 2,5KW, 1,8 kW và 500W. Sau đó, Trung Quốc viện trợ thêm cho 2 máy phát sóng ngắn loại 7,5KW và 1 máy sóng trung 1KW. Cán bộ kỹ thuật gồm những người của Đài TNVN từ Việt Bắc về, Đài Tiếng nói Miền Nam từ khu 5, và Đài Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến từ khu 9, Đài Phát thanh Tiếng nói Sài Gòn - Chợ Lớn tự do từ Sài Gòn ra tập kết, cùng chung tay khẩn trương lắp đặt, đến tháng 8 năm 1955 thì khánh thành Đài phát sóng Bạch Mai. Đây là đài phát sóng đầu tiên của Đài TNVN khi trở về Hà Nội, và cũng là đài duy nhất cho đến cuối 1958, khi đài Mễ trì lên sóng.


Đài Mễ Trì

Đầu năm 1956 ông Nguyễn Cung cùng với chuyên gia Liên Xô bắt tay xây dựng Đài Mễ Trì, - một đài phát sóng phát thanh hiện đại do Liên Xô viện trợ sau khi cuộc Kháng chiến chống Pháp thành công. Đài này có máy phát sóng trung 150 KW, và máy phát sóng ngắn 50 KW, là những máy công suất lớn trong khu vực Đông Nam Á vào thời điểm đó. Bước sóng trung 297 mét (ứng với tần số 1010 kHz) mà Đài Tiếng nói Việt Nam đăng ký với quốc tế không những thuận lợi về mặt truyền sóng, mà còn có ý nghĩa lịch sử ở chỗ 1010 là năm Vua Lý Thái Tổ dời đô ra Hà Nội.


Sự đóng góp và ảnh hưởng của Đài phát Mễ Trì vào sự nghiệp giải phóng miền Nam rất lớn, do đó Mỹ luôn tìm cách phá hoại đài này. Vào lúc 4 giờ 59 phút ngày 19-12, ba tốp B52 (bộ đội ta đánh số là 527, 528, 529) rải một thảm bom hơn 200 quả xuống khu vực Mễ Trì, phá hỏng trạm phát sóng chính. Do Đài TNVN, được sự giúp đỡ của các nước XHCN đã chuẩn bị để đối phó với tình huống này từ lâu rồi nên 9 phút sau nhân dân cả nước và kiều bào ở các nước láng giềng lại tiếp tục được nghe buổi phát thanh với hô hiệu quen thuộc “Đây là Tiếng nói Việt Nam”. Thực ra đó là sóng phát nhờ trên đài Đài phát 501 tại Côn Minh theo thỏa thuận trước với chính phủ Trung Quốc, và do một tổ phóng viên và biên tập được bố trí sẵn từ trước làm chương trình.


Đài Phát thanh Việt Bắc
Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng,  từ năm 1961 Cục Kỹ thuật phát thanh xây dựng Đài Phát thanh Việt Bắc tại tỉnh Thái Nguyên với 1 máy phát sóng trung công suất 7,5KW và 2 máy phát sóng ngắn công suất 1KW. Đài này chính thức phát sóng ngày 3/2/1962, ngoài bản tin thời sự tiếng Việt của Đài TNVN, hàng ngày còn có các chương trình tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Mông cho các tỉnh vùng núi Đông Bắc Việt Nam.


Đầu năm 1977, chấp hành quyết định của Trung ương Đảng và Chính phủ về việc thành lập Đài Phát thanh Bắc Thái là cơ quan báo chí hoạt động độc lập dưới sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ - HĐND - UBND tỉnh, Cục Kỹ thuât Phát thanh đã bàn giao cho tỉnh toàn bộ cơ sở vật chất của Đài Phát thanh Việt Bắc. 


Ngày 2/9/1977, Đài Phát thanh Bắc Thái lên sóng chương trình phát thanh đầu tiên. Đến năm 1990 Đài đổi tên gọi Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Thái. Năm 1997, tỉnh Thái Nguyên được tái lập, Đài mang tên Đài Phát thanh - Truyền hình Thái Nguyên cho đến ngày nay.


Đài CK-2 
Từ đầu năm 1965,  đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Để đối phó với cuộc chiến tranh bằng không quân của Mỹ, từ năm 1964 đến 1968 Cục Kỹ thuật phát thanh đã xây mới thêm 4 cơ sở kỹ thuật là Đài CK2 (Chương Mỹ - Hà Tây), Đài A3 (Trung Khánh – Cao Bằng), Đài V3 (Bảo Thắng – Lào Cai) và Đài B2 (Thất Khê – Lạng Sơn). Sau đây chỉ nói về Đài CK2 là đài lớn nhất trong số đó, đã đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử phát thanh TNVN, và còn tồn tại đến ngày nay.    


Đài CK-2 được thành lập từ tháng 8-1964, nằm trong hang Núi Vàng, giữa những dãy núi và rừng cây, thuộc địa phận xã Tân Tiến, huyện Chương Mỹ. Đây là đài phát thanh sóng ngắn thứ hai của nước ta, sau Đài Bạch Mai.


Việc xây dựng đài CK-2 nhằm ứng phó với tình thế mới, khi Mỹ leo thang chiến tranh, bắt đầu tấn công ra miền Bắc. Đài CK-2 vì thế được đặt trong một hang núi nằm giữa những dãy núi và rừng cây, máy bay địch khó có thể oanh tạc để phá hủy. Việc xây dựng đài cũng như lắp máy hoàn toàn do các chuyên gia Việt Nam đảm nhiệm. Các máy phát mua từ Liên Xô, Hungari, và Trung Quốc, không tập trung mua ở một nước để tránh sự chú ý của nước ngoài và ẩn giấu thực lực của đài.
Có một khó khăn: vị trí đặt đài không thuận tiện cho việc đưa chương trình từ Đài Bá âm ở 39 Bà Triệu, Hà Nội đến các máy phát, đặt cáp thì khoảng cách quá xa mà địa hình phức tạp, thi công khó khăn và chi phí cao, mà truyền bằng vi ba thì giữa “Bá âm-Đài Phát” (Studio-Transmitter) không có khoảng trống trong tầm nhìn thẳng.     
Trong chiến tranh đã giải quyết tạm bằng thiết bị truyền dẫn ở băng tần UHF điều chế Delta, nhưng chất lượng tín hiệu thu được chưa đủ độ tin cậy. Năm 1977 lãnh đạo Cục Kỹ thuật Phát thanh cho phép GS Nguyễn Văn Ngọ và Phòng Kỹ thuật của Cục thử nghiệm phương án phát lại vi ba thụ động: từ trụ sở Cục ở Triều Khúc cho búp sóng máy vi ba KTV 8000 (bước sóng 3,75 cm) dọi thẳng lên đỉnh núi Bộc Cưa, ở đó dùng một trạm chuyển tiếp thụ động hắt sóng xuống Đài CK2 ở ngay chân núi. Việc truyền tín hiệu thành công mỹ mãn.


Tháng 12 năm 1972, khi không quân Mỹ ném bom phá hủy đồng thời Đài Mễ Trì và Đài Bạch Mai thì Đài CK2 lập tức lên sóng phát tiếp chương trình phát thanh đối nội mà Đài Bạch Mai đang phát dở dang. phát sóng binh vận bằng Tiếng Anh và phát sóng đối ngoại phục vụ Hội nghị Paris…
Trưởng Đài đầu tiên của CK2 là ông Huỳnh Minh Châu (Sáu Châu), cán bộ kỹ thuật đã từng tham gia xây dựng Đài Tiếng nói Nam bộ Kháng chiến. Sau khi tập kết ra Hà Nội, ông thi vào học tại chức khoa Vô tuyến điện trường Đại học Bách khoa và tốt nghiệp kỹ sư, mấy năm sau lại trở về chiến trường miền Nam. Các ông Phó Tổng Giám đốc Đài TNVN Huỳnh Ngọc Ấn, Đào Duy Hứa cũng đã từng là trưởng Đài CK2.


Ngày nay, nhiệm vụ chính của Đài CK2 là phát sóng các Hệ phát thanh đối nội phủ sóng khu vực miền núi phía Bắc, khu vực Hà Nội bên cạnh nhiệm vụ chính trị đặc biệt khác.


Đài Mễ Trì trùng tu
Sau vụ ném bom hủy diệt của B52 vào cuối năm 1972, Chính phủ Việt Nam nhờ các nước bè bạn giúp đỡ sớm trang bị lại một máy phát 200 kW mới ở cơ sở Mễ Trì để duy trì việc phát sóng phục vụ cho chiến dịch Hồ chí Minh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Các ông Nguyễn Văn Sinh, Nguyễn Trọng Hưởng là những người có công lớn trong việc trùng tu Đài Mễ Trì. Ông Sinh xuất thân là công nhân ở Đài Mễ Trì, cần mẫn theo học bổ túc văn hóa mỗi năm một lớp, xong lớp 10 ông thi vào học tại chức ngành Vô tuyến điện trường Đại học Bách khoa. Tiến bộ dần trong nghề nghiệp, khi có bằng kỹ sư thì cũng vừa lúc được đề bạt lên bậc Trưởng ca ở Đài Mễ Trì. Ông Hưởng cũng là kỹ sư VTĐ tốt nghiệp Đại học Bách khoa, khi đó là Trưởng ban kỹ thuật của Đài. Vào thời điểm máy bay B52 của Mỹ ném bom hủy diệt, cả hai ông đều đang có mặt trong nhà máy. Nhờ tích cực chỉ đạo toàn Đài nhanh chóng thu dọn mặt bằng, khôi phục đường điện, đường nước, đường tín hiệu, xây dựng lại nhà máy, và thể hiện trình độ chuyên môn cao khi cùng chuyên gia nước bạn lắp đặt máy phát, anten cho đài sóng trung 200 KW mới, ông Hưởng được đề bạt làm trưởng Đài Mễ Trì mới, ông Sinh làm Phó Cục trưởng Cục Kỹ thuật Phát thanh, và chẳng bao lâu sau lên làm Cục trưởng thay cho ông Lâm Thanh Nghị bị bệnh nặng xin về Nam an dưỡng. 


Đài VN-1
Đài TNVN đã lường trước được việc Mỹ sớm hay muộn sẽ hủy diệt Đài Mễ Trì và Đài Bạch Mai cho nên vào cuối năm 1972, ông Nguyễn Cung - Trưởng đoàn cán bộ Đài Tiếng nói Việt Nam, và công trình sư Ivanov - Trưởng đoàn cán bộ Bộ Thông tin - Truyền thông Liên Xô đã hoàn thành việc khảo sát, định vị địa điểm xây dựng một nhà máy phát sóng mới và lớn cho Đài THVN tại thôn Lễ Khê, xã Xuân Sơn, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, cách Hà Nội 40km, cạnh hồ Suối Hai để có nguồn nước cung cấp ổn định cho nhà máy. Công suất sóng trung của Đài là 1000 KW (lớn nhất vùng Đông Nam Á, và ngang với Đài Phát thanh Bắc Kinh). Toàn bộ khảo sát, thiết kế, thiết bị, máy móc, vật tư, kỹ thuật, chuyên gia, hậu cần đều do Liên Xô viện trợ không hoàn lại. Đài này được đặt tên là đài VN-1.


Ngày 14/5/1980, được sự ủy quyền của 2 nhà nước Việt Nam và Liên Xô, lãnh đạo Đài TNVN và Đại sứ quán Liên Xô đã ký biên bản xác nhận công trình lắp đặt các thiết bị phát sóng phát thanh đã hoàn thành và sẵn sàng để đưa vào khai thác. Từ đó, Đài Phát sóng phát thanh VN1 là cơ sở phát sóng có công suất lớn của Đài TNVN.


Theo quy định thời bấy giờ, lương của Trưởng đài được hưởng theo công suất máy phát, do vậy Trưởng Đài VN 1 hưởng lương tương đương bậc Cục trưởng. Vì lý do này thời gian đầu ông Nguyễn Văn Sinh phải kiêm nhiệm, ông Võ Văn Luân làm Đài phó thường trực và ông Nguyễn Năng Viện Đài phó phụ trách kỹ thuật. 


Gần đây, ngày 29/8/2009, Đài VN1 vinh dự được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước phát lệnh phát sóng phủ sóng biển Đông. Từ đây bộ đội chiến sỹ biên giới hải đảo cùng hàng triệu ngư dân được nghe đầy đủ các chương trình của Đài TNVN với chất lượng cao. 


Đài phát thanh Giải phóng (1962 - 1975) 
Năm 1960, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời. 
Chỉ hơn 1 năm sau, Đài TNVN đã chuẩn bị để thành lập Đài Phát thanh Giải phóng theo sự chỉ đạo của Bộ Chính trị Trung ương Cục miền Nam. Đài Phát thanh Giải phóng (PTGP) là tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
 

Bộ Biên tập Đài Tiếng nói Việt Nam đã cử những cán bộ giỏi vào Nam xây dựng Đài Phát thanh Giải phóng, như các ông: Vũ Đường (tức Thanh Nho), Huỳnh Minh Lý (tức Ba Nhi), Hồ Vĩnh Thuận, Phạm Châu Lập… Đây là những cán bộ đi B đầu tiên của Đài TNVN, mở đầu cho những cuộc lên đường Nam tiến tiếp theo cho đến tận mùa Xuân năm 1975.


Đồng thời Cục KT Phát thanh cũng gửi máy phát sóng 1 KW tháo rời và một số đèn công suất dự phòng theo con đường của Ban Thống nhất Trung ương. 
Đài PTGP chính thức phát sóng vào ngày 1.2.1962. Buổi phát thử đầu tiên ở chiến khu Đ (Đồng Nai), tín hiệu phát đi chất lượng kém nghe không rõ. Nhưng chẳng bao lâu sau lần lượt nhận được điện chúc mừng của Bến Tre, Cần Thơ, Biên Hòa, cho biết đồng bào, chiến sĩ ở địa phương đã thu được tiếng nói của đài trong trẻo, rõ ràng. Liền sau đó là cả Liên khu 5 và Hà Nội đều bắt được sóng của đài.


Một thời gian ngắn sau đó, do yêu cầu của chiến trường, toàn bộ cơ sở của đài quay về căn cứ cũ tại đầu nguồn sông Vàm Cỏ Đông (tỉnh Tây Ninh). Chỉ trong vòng một tuần lễ, hàng trăm tấn thiết bị được đóng thành từng gói vận chuyển vượt qua 200 km , qua quốc lộ 13-14, qua sông Sài Gòn, được lắp đặt hoàn chỉnh và đi vào hoạt động. 


Trước đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn cuộc kháng chiến, Trung ương chỉ đạo Đài Tiếng nói Việt Nam lập thêm đài PTGP A (tại Hà Nội) để tăng cường cho đài PTGP B (ở miền Nam). 


Ngày 4/04/1962, tức là chỉ hơn 2 tháng kể từ khi đài PTGP B lên sóng ở miền Nam, đài PTGP A đã lên sóng tại Hà Nội. Đài này có công suất phát đủ lớn cho cả miền Nam thu nghe với chất lượng tốt, đồng thời làm nhiệm vụ quốc tế. PTGP A có nhiệm vụ vừa tiếp âm PTGP B,  lại vừa bổ sung chương trình cho PTGP B. Vì thế, bộ phận biên tập của PTGP A (bí danh CP 90) khá lớn, - hơn 400 anh chị em (chủ yếu là người miền Nam tập kết) công tác trong 14 phòng, ban, sản xuất chương trình đủ cho thời lượng phát sóng 10 tiếng/ ngày. Giám đốc PTGP A là ông Nguyễn Thành, sau 30/4/1975 là Giám đốc Cơ quan đại diện TNVN ở miền Nam.


 
Các phát thanh viên Đài PTGP A đang làm việc


Ngoài ra phải xây dựng mạng lưới điện đài trực tiếp nhận tin, bài và ý kiến từ miền Nam. Trong điều kiện viễn thông của nước ta hồi đó việc thực hiện nhiệm vụ này hết sức khó khăn. Đài PTGP B chủ yếu cung cấp  tin tức ra Bắc bằng điện báo Morse để Đài PTGP A biên tập, dàn dựng thành chương trình phát sóng vào miền Nam,
Ông Đặng Trung Hiếu, Cục phó Cục Kỹ thuật Phát thanh kiêm Phó ban B đài Tiếng nói Việt Nam, đã mạnh dạn dùng thử kỹ thuật kỹ thuật đơn biên, và đã có dự án hết sức táo bạo là đặt nước ngoài chế tạo cho một đài phát đơn biên di động công suất lớn, gồm máy phát đặt trên xe, kéo theo rơ-moóc là một tháp anten telescopic (kéo lên - rút xuống được như một anten roi khổng lồ). GS Nguyễn Văn Ngọ đã được mời dự nghiệm thu thành phẩm, kết quả mỹ mãn. Đáng tiếc là trên đường đưa vào cho Đài PTGP B sử dụng, hệ thống này đã bị địch ném bom phá hủy mất!
 

Đài PTGP A tuy ở miền Bắc nhưng địch cũng không bao giờ từ bỏ ý đồ tìm cách hủy diệt, Từ 6A Yên Phụ (Hà Nội), vào Nam Đàn (Nghệ An), lên Sơn Tây (Hà Nội), Lạng Sơn, Lào Cai rồi trở về Thủ đô, Đài PTGP A cũng phải di chuyển tránh địch chẳng khác gì PTGP A trong Nam. Riêng đội ngũ phóng viên, nhà báo, nhân viên kỹ thuật truyền tin đã xông xáo trên khắp các chiến trường, từ B2 đến Tây Nguyên, khu 5, Trị Thiên Huế. 


24 cán bộ kỹ thuật, công nhân viên, biên tập viên của đài đã ngã xuống vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Trước khi lên đường vào Đài PTGP B công tác các cán bộ kỹ thuật đều được thầy Nguyễn Văn Ngọ bồi dưỡng thêm kiến thức. Đến nay hồi tưởng lại thầy vẫn  bùi ngùi, không biết những ai trong đó đã ngã xuống?


Vấn đề phủ sóng đối ngoại trước 1975


Về phủ sóng đối ngoại, tuy rằng với Đài Mễ Trì và Đài Bạch Mai chương trình của Tiếng nói Việt Nam đã vươn tới Nhật Bản, vài nước Châu Âu và Châu Phi, nhưng vì công suất sóng ngắn của Đài TNVN nhỏ, hơn nữa những tần số truyền sóng tốt đã bị một nước lớn thâm hiểm “xí chỗ” hết để hạn chế phát thanh đối ngoại của Việt Nam, nên những năm hội nghị Paris chúng ta phải sử dụng một tần số kề sát tần số dành cho điều khiển không lưu. ITU đã 2 lần cảnh cáo Cục Tần số VTĐ Việt Nam. Đáp lại, trong Hội nghị Phát thanh sóng ngắn Châu Á- Thái Bình Dương năm 1987 đại biểu Ủy ban PT-TH Việt Nam đã lớn tiếng tố cáo sự bất công trong phân chia tần số cho Việt Nam và năm 1988 Đài TNVN phối hợp với Tổng cục Bưu điện đưa vấn đề ra Đại Hội đồng ITU.


Để đảm bảo nhu cầu cấp thiết phát thanh đến Bắc Mỹ, năm 1967 Đài TNVN đã có một sáng kiến độc đáo dựa trên sự ủng hộ khẳng khái của chính phủ Cuba và Chủ tịch Fidel Castro. dùng sóng Đài La Habana hướng thẳngvào Mỹ.. Một tổ biên tập tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha được cử sang để phối hợp với các đồng nghiệp Cuba làm buổi phát thanh hàng ngày chĩa sang Bắc Mỹ. Lúc đầu, tổ này do anh Nguyễn Duy Phức phụ trách, sau đó anh Lê Tiến, chị Vân Anh sang thay. Ngay từ buổi phát sóng đầu tiên Đài La Habana công khai giới thiệu “Đây là buổi phát thanh dành cho người Mỹ của Đài Tiếng nói Việt Nam, phát trên làn sóng Đài La Habana”. Buổi phát thanh đã nhanh chóng thu hút được nhiều người nghe ở Mỹ, và là buổi phát thanh nhận được nhiều thư thính giả nhất của Đài La Habana. Nhiều thính giả ở Mỹ đã gửi tiền và một số máy móc sang ủng hộ. Chương trình phát thanh này được triển khai cho đến khi miền Nam hoàn toàn giải phóng.


Hệ thống phát sóng tiếp quản từ chính quyền cũ và các đài xây dựng mới
Từ ngày 30-4-1975 ta tiếp quản hệ phát thanh Vô tuyến Việt Nam của chính quyền VNCH, gồm có đài chính là Đài Sài Gòn, 3 đài cấp vùng (50 KW) ở Đà Nẵng, Quy Nhơn và Nha Trang, 4 đài cấp tỉnh ở Huế, Quảng Ngãi, Cần Thơ và Ban Mê Thuột. Ngoài ra, khi có chiến tranh biên giới phía Tây Nam, Cục trưởng cục Kỹ thuật Phát thanh đã cử ông Huỳnh Ngọc Ấn đi xây dựng gấp một số Đài phát thanh địa phương ở các tỉnh biên giới để phục vụ chiến đấu, sử dụng những máy phát sóng cỡ 20 kW mà các nước XHCN anh em viện trợ trước 4/1975. 


Toàn bộ hệ thống phát thanh ở miền Nam từ đó được đưa vào hoạt động theo hệ thống chung của Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN), nhưng việc chuyển tải chương trình từ Hà Nội vào các đài ở phía Nam rất khó khăn do: hệ tải ba hữu tuyến và hệ vi ba tiếp sức của Tổng cục Bưu điện và Bộ Tư lệnh Thông tin không đảm đương được, mà thu các làn sóng ngắn Đài TNVN ở miền Bắc rồi phát lại thì chất lượng tín hiệu rất kém. Với những bản tin quan trọng, đã từng có tình trạng phát tin đọc chậm cho các đài ở phía Nam ghi, sau đó các Đài này biên tập lại thành chương trình tại chỗ và phát lên sóng. Thông thường thì kỹ thuật viên tùy theo mùa mà chọn giờ truyền sóng ngắn tốt nhất trong ngày để ghi âm và phát lại.


Thay cho lời kết
40 năm đã qua, nhưng GS Nguyễn Văn Ngọ không thể nào quên buổi gặp mặt với các đồng chí, đồng nghiệp, học trò cũ tại trụ sở Cơ quan đại diện Đài TNVN ở miền Nam (số 11 đường Xô Viết Nghệ Tĩnh) vào một buổi chiều đầu tháng 7/1975. Lúc đó ông vẫn còn thuộc biên chế trường Đại học Bách khoa (Hà Nội) nên Giám đốc Ban đại diện Nguyễn Thành gọi điện thoại thông báo thân mật cho anh em là “Thầy Ngọ vô thăm”.


GS Ngọ kể lại: Cuộc đời tôi cũng không mấy khi có những giờ phút xúc động đến như vậy: Đây rồi, ông Thành, ông Ba Nhi (Huỳnh Minh Lý), ông Năm Hanh, anh Hồ Vĩnh Thuận (thầy giáo bộ môn VTĐ đi B từ đợt đầu tiên). Anh Sáu Điểm, anh Sáu Quang (học trò cũ hệ chính quy), anh Nguyễn Nam Kim (sv miền Bắc, hệ chính quy), và cả anh Kim Sơn, kỹ sư của chính quyền cũ ở lại, nhưng cũng gọi tôi bằng thầy. Khi tôi nói “Lúc tiễn các anh ra đi, tôi đâu dám nghĩ đến còn có ngày gặp lại như thế này!”, Sáu Quang ôm lấy tôi, hai thầy trò cùng chảy nước mắt, rồi tất cả mọi người đều chảy nước mắt. Ông Thành bảo “Nước mắt dành cho ngày gặp mặt”, mọi người vỗ tay. Cuộc gặp mặt từ 2 giờ chiều kéo dài đến 8 giờ đêm, vì có “nhậu lai rai” và anh em học trò cũ ở các ngành khác được tin đều kéo đến gặp thầy.
 

Hà Nội,  Ngày 19 tháng 5 năm 2015
 

Bình luận
Nhập mã bảo mật:
Captcha image