Hội Vô tuyến điện tử Việt Nam cùng với những đóng góp của cá nhân và tập thể cho sự phát triển Phát thanh Việt Nam sau 1975

Do hoàn cảnh chiến tranh biên giới phía Tây Nam, rồi phía Bắc, nên sau năm 1975, sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam nói chung và công nghiệp điện tử nói riêng hầu như chưa có gì.

Cho đến năm 1984 (năm diễn ra hội nghị toàn quốc ngành phát thanh-truyền hình Việt Nam) thì nước ta vẫn còn rất khó khăn, 80% dân không có điện dùng cho sinh hoạt, sản xuất công nghiệp trong đó có công nghiệp điện tử, vô tuyến điện gần như chỉ là con số 0. Ngành phát thanh -truyền hình chưa thể tự sản xuất được chiếc radio đơn giản cho dân nghe, chưa làm ra được chiếc tivi, chưa nói đến việc sản xuất các máy phát sóng, máy ghi âm, ghi hình cho hoạt động kỹ thuật phát thanh và truyền hình.

Hội Vô tuyến điện tử Việt Nam

Ông Huỳnh Ngọc Ấn- Nguyên Phó Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam (ảnh VOV.vn)

Điều khó khăn nhất là cho đến cuối những năm 80, sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam chỉ phủ được 16% lãnh thổ, chủ yếu là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận. Mặc dù từ năm 1976 đến 1980 Đài TNVN và Ủy ban Phát thanh-Truyền hình VN đã lắp đặt cho 53 đài tỉnh trên cả nước, mỗi tỉnh một máy phát sóng trung từ 1Kw đến 10Kw nhưng vì không tiếp âm được Đài TNVN nên các đài tỉnh chủ yếu đưa tin tức của địa phương.

Trong quá trình phát triển, ngành kỹ thuật phát thanh VN gặp phải 3 khó khăn lớn. Khâu sản xuất chương trình: nguồn băng từ mua của Liên Xô trước đó thì không thể tiếp tục mua được nữa do VN không có tiền. Các đầu từ máy ghi âm mòn, hỏng mà không có thiết bị để thay thế. Khâu truyền dẫn: từ Trung tâm sản xuất chương trình đến đài phát Mễ Trì bằng cáp ngầm; từ Mễ Trì đi 2 đài phát CK2 (Xuân Mai, Hà Tây) và VN1 (Ba Vì) dùng thiết bị vi ba DM400- do Hungari sản xuất. Tất cả các đài phát trung ương ở các địa phương đều phải dùng radio để tiếp âm bằng sóng ngắn nên chất lượng âm thanh xấu, tạp âm nhiều, có nhiều lúc (sáng và đêm) không bắt được sóng đài trung ương. Các máy phát do Mỹ, Trung Quốc, Liên Xô, Hungari sản xuất được khai thác trong hệ thống kỹ thuật phát thanh VN đều được dùng hết công suất, khi cũ, hỏng lại thiếu linh kiện thay thế. Chính vì vậy phải giảm công suất phát và giảm thời gian phát sóng trong ngày. Một khó khăn khác xuất hiện trong thời kỳ này là điện lưới quốc gia liên tục bị cắt. Mặc dù được cấp các loại máy nổ dự phòng nhưng dầu chạy máy nổ cũng thiếu nên rất hạn chế. Thời kỳ 1976-1990, các phương tiện truyền thông, báo chí VN chưa được phát triển, Đài Truyền Hình Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn thử nghiệm, phạm vi phủ sóng còn hẹp, số máy thu hình trong dân chủ yếu là máy cũ của Nhật, khác hệ nên phải đổi hệ mới bắt được sóng THVN. Báo chí chưa phát triển rộng rãi vì thiếu giấy in, lại khó trong khâu phát hành vì các phương tiện giao thông hạn chế. Chính phủ chỉ trông chờ vào việc phủ sóng Tiếng Nói Việt Nam để thực hiện các yêu cầu tuyên truyền trong dân, trong khi đó các đài của Trung Quốc, BBC, VOA, Châu Á tự do phát sóng rất mạnh vào Việt Nam với nhiều nội dung nói xấu chế độ.

Trước tình hình khó khăn nhiều mặt của đất nước và trước nhu cầu khẩn cấp của công tác tuyên truyền đường lối, chính sách, quan điểm của Đảng đến với toàn dân, ngày 13-6-1992, Ban Bí thư TƯ Đảng đã có chỉ thị về công tác thông tin tuyên truyền. Tiếp đến ngày 26-4-1993, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh chỉ thị cho Đài TNVN phải gấp rút nâng cao chất lượng nội dung tuyên truyền và tăng diện phủ sóng phát thanh Tiếng Nói Việt Nam. Ngày 14-3-1994 Thủ tướng Võ Văn Kiệt có chỉ thị về xây dựng và phát triển ngành Phát thanh-Truyền hình Việt Nam, trong đó nêu rõ: “Phát triển, hiện đại hóa hai ngành phát thanh và truyền hình là một nhiệm vụ cấp bách, không thể chậm trễ”.

Trong hoàn cảnh đất nước bị cấm vận, các nước Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, để thực hiện được những chủ trương, nhiệm vụ trên, lãnh đạo Đài TNVN và Cục Kỹ thuật Phát thanh VN xác định phải dựa vào nội lực của Việt Nam để thực hiện các nhiệm vụ chính trị. Nội lực mà lãnh đạo Đài TNVN xác định là đội ngũ kỹ sư và cán bộ kỹ thuật đang công tác ở Đài TNVN. Nhưng để thực hiện được chỉ thị của Thủ tướng Võ Văn Kiệt là phải hiện đại hóa ngành phát thanh thì bước đi, cách làm là gì?. Đó là phải dựa vào các nhà khoa học của các trường Đại học Bách khoa, Đại học Tổng hợp Hà Nội, các giáo sư, kỹ sư của các viện nghiên cứu. Khi ấy, đầu mối để huy động lực lượng các nhà khoa học này là phải dựa vào Hội Vô tuyến Điện tử Việt nam.

Từ những năm 1976-1977 (sau khi tiếp quản hệ PT-TH ở miền Nam), Đài đã mời được GS Nguyễn Văn Ngọ của Đại học Bách khoa về làm cố vấn kỹ thuật cho Cục trưởng Cục kỹ thuật phát thanh. Sau đó GS Ngọ lại giúp Ủy ban Phát thanh và Truyền hình VN thành lập Vụ Khoa học và Công nghệ và ông được cử làm Vụ trưởng. Từ GS Nguyễn Văn Ngọ, lãnh đạo Đài TNVN tiếp tục mời các giáo sư khác như GS Phan Anh, PGS Kiều Vĩnh Khánh, GS Nguyễn Đình Ngọc, GS Trần Thúc Vân, PGS Nguyễn Cảnh Tuấn, TS Mai Liêm Trực, TS Đặng Đình Lâm, TSKH Phạm Khắc Di… Từ các chuyên gia đầu ngành này, theo từng lĩnh vực chuyên môn, lãnh đạo Đài TNVN phối hợp với Hội Vô tuyến Điện tử Việt Nam do GS Nguyễn Văn Ngọ làm chủ tịch đã khai thác các thế mạnh của từng chuyên gia để giải các bài toán khó cho Đài.

Sau khi làm việc với GS Nguyễn Văn Ngọ, GS Phan Anh, lãnh đạo Đài TNVN đã xác định bước đi là tập trung nguồn lực để hiện đại hóa, nâng cao chất lượng khâu truyền dẫn chương trình phát thanh từ Trung tâm Sản xuất Chương trình Phát thanh 39 Bà Triệu đến tất cả các đài phát sóng phát thanh của trung ương và các tỉnh trên toàn quốc. Phương châm là đi thẳng vào kỹ thuật số và dùng vệ tinh để truyền các chương trình  Phát thanh, chọn hãng sản xuất thiết bị phát lên vệ tinh và thiết bị mặt đất thu sóng từ vệ tinh xuống để phát lại (gọi là RRO, – Radio Receive Only); thiết bị phải dùng công nghệ mới nhất của kỹ thuật số là nén dải tần tín hiệu để tiết kiệm dung lượng đường truyền và nâng cao chất lượng chống nhiễu. Vào thời điểm năm 1993, Mỹ vẫn cấm vận nước ta, do vậy muốn mua được thiết bị hiện đại như vậy của Mỹ phải qua hai nước trung gian là Canada và Thái Lan. Hội Vô tuyến Điện tử đã cử TSKH Phạm Khắc Di cố vấn kỹ thuật cho đài. Đây là công nghệ số hiện đại đầu tiên được sử dụng ở Việt Nam với giá thuê kênh vệ tinh Palapa của Indonesia chỉ 16.000 USD/năm, trong khi dùng vệ tinh Gorizont (Liên Xô) qua trạm Hoa Sen phải trả 340.000 USD/năm, lại là kỹ thuật analog, chất lượng tín hiệu kém hơn hẳn kỹ thuật số.

Tháng 2-1994, khi trạm vệ tinh đi vào khai thác, chất lượng phát sóng, phủ sóng quốc gia đã tăng lên rõ rệt. Thủ tướng Võ Văn Kiệt, các phó Thủ tướng, lãnh đạo các bộ ngành đến kiểm tra đều đồng tình với cách làm của Đài TNVN.

Ngày 27-4-1994, GS.TSKH Phan Anh (PCT Hội VTĐT VN, phụ trách KHKT) cùng TSKH Lê Anh Dũng (Giám đốc Công ty AIC, Bộ Quốc phòng) bàn với lãnh đạo Đài TNVN bước đi hiện đại hóa khâu sản xuất chương trình ở Trung tâm sản xuất chương trình phát thanh Đài TNVN. Dựa vào sự phát triển công nghệ sản xuất chương trình của các nước như Australia, Pháp, Hội Vô tuyến Điện tử đã kiến nghị Đài TNVN tập trung đi thẳng vào kỹ thuật số. Trước hết kỹ thuật số được áp dụng trong các khâu điều khiển hệ thống chuyển mạch đến, bàn trộn số, máy ghi âm số, DAT (Digital Audio Tape), CD Compact Disk) , MC Memory Card), dùng máy tính làm chương trình. Triển khai đào tạo đội ngũ kỹ thuật viên, phóng viên, biên tập sử dụng thành thạo công nghệ mới, từ đó công nghệ máy tính được áp dụng vào hệ thống sản xuất chương trình phát thanh dưới dạng hệ thống. Hệ thống gồm nhiều trạm làm việc nối thành mạng. Các computer tại các trạm có bộ nhớ riêng, độc lập, đồng thời nối tới máy chủ trung tâm. Máy chủ trung tâm là trái tim của cả hệ thống. Đây là bước đi rất hiệu quả, nâng cao chất lượng kỹ thuật, đáp ứng nhanh tính thời sự, quản lý, cung cấp tin đa dạng, kịp thời cho các chương trình phát thanh trong nước và quốc tế.

Bước tiếp theo là quy hoạch lại toàn bộ hệ thống phát thanh Việt Nam. Mục tiêu quy hoạch là thiết lập tổng thể mạng lưới các đài phát sóng phát thanh và phương thức truyền dẫn tín hiệu nhằm phủ sóng đối nội (lãnh thổ VN) ở mức độ cao nhất và phủ sóng đối ngoại hiệu quả trong phạm vi yêu cầu. Để thực hiện, cần xuất phát từ việc chọn dải sóng thích hợp cho từng mục đích và đối tượng (sóng trung AM, sóng cực ngắn FM và sóng ngắn SW ở các băng tần phù hợp ), đồng thời chọn cấu hình các đài phát sóng (thiết bị anten, máy phát với công suất hợp lý cho từng địa bàn phủ sóng) ; chọn thiết bị hiện đại, năng suất cao, chất lượng tốt và đồng bộ cho từng đài phát và cả hệ thống. GS Phan Anh được Hội Vô tuyến Điện tử cử giúp Đài TNVN chủ trì quy hoạch, có sự hợp tác của tất cả các chuyên gia đầu ngành về kỹ thuật điện tử, viễn thông, kỹ thuật số. Bắt đầu từ tháng 2-1993, GS Phan Anh và nhóm của mình đã lập quy hoạch tính toán, khảo sát, tìm kiếm tài liệu về khí hậu thủy văn, địa chất trên các vùng dự kiến đặt đài phát. Mục tiêu của việc này là phủ sóng 100% lãnh thổ, 98% dân số, kể cả vùng lãnh hải, sông lớn của Việt Nam; phủ sóng Đài TNVN tới các nước Đông Nam Á, Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ và vùng Caribê.

Sau khi nhóm hoàn thành bản dự thảo quy hoạch, phải thông qua các nhà khoa học thuộc Hội Vô tuyến Điện tử VN, sau đó thông qua Hội đồng Khoa học Công nghệ nhà nước do Bộ Khoa học và Công nghệ ra quyết định thành lập (thành phần chủ yếu vẫn là các chuyên gia của Hội Vô tuyến Điện tử do các GS Nguyễn Văn Ngọ, Trần Thúc Vân đứng đầu). Sau khi Bộ thông qua về mặt khoa học công nghệ thì quy hoạch được bảo vệ trước Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như các cơ quan tài chính, ngân hàng, ở đây nhóm phản biện chính được chỉ định là GS Nguyễn Văn Ngọ, PGS Kiều Vĩnh Khánh  Sau khi 3 hội đồng thông qua, ngày 28-9-1994 quy hoạch được bảo vệ trước lãnh đạo Chính phủ, do Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phó Thủ tướng Nguyễn Khánh, các bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Văn hóa Thông tin, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Lao động Thương binh và xã hội, Bộ Nông nghiệp, Bộ Ngư nghiệp, Tổng cục Bưu điện…

Sau khi nghe lãnh đạo Đài TNVN trình bày quy hoạch, Thủ tướng Võ Văn Kiệt kết luận: Cách làm quy hoạch này rất tốt; Dựa trên cơ sở tính toán khoa học; Dựa trên kết luận của Hội Vô tuyến Điện tử, Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Kế hoạch Đầu tư. Cách lựa chọn tốt, tính toán tốt, nhất là cách làm, bước đi, cách tính toán đảm bảo được yêu cầu mà nhà nước đề ra. Thủ tướng Chính phủ chấp nhận cho phép thông qua và thực hiện quy hoạch sao cho nhanh, phải rút ngắn thời gian, vì đến năm 1995 nước ta sẽ có những thay đổi lớn trong quan hệ đối ngoại. Cái khó lúc đó là sợ kinh phí quá lớn. Thủ tướng chỉ thị chia giai đoạn để làm. Trước hết là phủ sóng vùng đồng bằng Nam bộ, đồng bằng Bắc bộ, vùng núi, các nước Đông Nam Á, Châu Á. Về mặt kinh phí thì bằng mọi cách Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Tài chính phải lo, vì đây là việc sống còn của đất nước. Đó là những kết luận quan trọng của Thủ tướng Chính phủ cho sự phát triển của ngành kỹ thuật phát thanh Việt Nam.

Từ quy hoạch đến bước triển khai là một quá trình đòi hỏi phải có kiến thức, tiếp cận được công nghệ tiên tiến của thế giới, đủ năng lực chuyên môn, tài chính. Để làm được điều này, lãnh đạo Đài TNVN quyết định dựa vào Ban lãnh đạo Hội Vô tuyến Điện tử, các chuyên gia đầu ngành của Việt Nam.

Bước thứ nhất là thành lập hội đồng lập hồ sơ mời thầu, vì đây là đề bài quan trọng nhất. Vì vậy hồ sơ mời thầu được 14 nhà khoa học đầu ngành của Hội Vô tuyến Điện tử chủ trì; nội dung mời thầu phải thỏa mãn yêu cầu nhà cung cấp thiết bị: thiết bị phải sử dụng công nghệ tiên tiến nhất; các thiết bị kỹ thuật phải hiện đại, đồng bộ hiệu suất cao trong khai thác; độ tin cậy cao (nghĩa là tuổi thọ của linh kiện phải cao). Hội đồng mời thầu quyết định chỉ gửi hồ sơ mời thầu đến các nước G7, là những nước công nghiệp phát triển. Hồ sơ mời thầu phải đáp ứng được các câu hỏi của nhà thầu khi đọc hồ sơ… Để trả lời các câu hỏi này, ngoài các chuyên gia lĩnh vực điện tử, tin học, còn phải mời các chuyên gia thuộc Cục khí tượng thủy văn, Cục địa chất bản đồ, Cục tác chiến Bộ Quốc phòng cùng tham gia.

Về kinh tế: có các chuyên gia kinh tế, tham tán kinh tế của Bộ Ngoại thương, Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước, Cục đấu thầu Bộ Kế hoạch và Đầu tư… Suốt một năm, hội đồng xét thầu phải lần lượt làm việc với 7 nhà thầu thuộc các nước Nhật, Pháp, Anh, Mỹ, Canada. Nguyên tắc làm việc của hội đồng xét thầu là công khai, trực tiếp với nhà thầu, độc lập trong quyết định lựa chọn. Khi lựa chọn được kỹ thuật, công nghệ có thể thỏa mãn đầu bài, mới bắt đầu đàm phán về giá cả, tức là lấy công nghệ, kỹ thuật đồng bộ, hiện đại xem xét trước, sau đó mới xem xét đến giá cả.

Tháng 7-1995, Mỹ chính thức bỏ cấm vận với Việt Nam, là thời điểm chúng ta có thể tiếp cận được công nghệ, thiết bị của các nước tiên tiến. Tháng 6-1996, kết thúc đàm phán chọn thầu. Hồ sơ thầu được Cục đấu thầu và Bộ Kế hoạch Đầu tư thẩm định, Chính phủ phê duyệt. Sau đó lập tức các dự án được triển khai. Tháng 7-1997, Đài phát sóng 3500kw (mang tên VN2) đặt tại Cần Thơ được khánh thảnh, ngay sau đó Đài phát sóng 700kw tại Hưng Yên được khánh thành Một kỷ lục làm việc được các nước Đông Nam Á, các nhà thầu, tổ chức phát thanh truyền hình Châu Á – Thái Bình Dương ca ngợi khâm phục.

Cùng các đài phát sóng trung, các đài FM công suất từ 10 đến 20kw được lắp đặt tại các điểm cao: Tam Đảo, Núi Bà Đen, núi Hàm Rồng, núi Bà Nà… Các đài này lên sóng đã phủ sóng 90% lãnh thổ, 86% dân số, đặc biệt ngư dân làm ăn ở vùng biển Nam Việt Nam nghe tốt sóng phát thanh, nhất là khi có bão gió cả ngày, đêm. Đài TNVN còn đưa đầu thu kỹ thuật số và dùng vệ tinh Intersat để đưa chương trình phát thanh đối ngoại qua Nga, thuê máy phát sóng ngắn công suất lớn của Nga phát vào Châu Âu, Mỹ và Mỹ La tinh.

Nhờ áp dụng kỹ thuật hiện đại, Đài TNVN đã tiến một bước dài trong phủ sóng phát phát thanh đối nội, đối ngoại, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao. Muốn đưa Tiếng nói Việt Nam đến với người dân, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, nơi kinh tế còn khó khăn… Cục truyền thanh đã tiến hành sản xuất các máy tăng âm 100w-600w và mua các loa nén 25w của Trung Quốc, Liên Xô và dây đồng để lập các đài truyền thanh cho các thôn xã trong toàn quốc. Hoạt động của các đài truyền thanh thường không ổn định, vì khi có gió, bão các cột đổ, dây đứt, mất cắp, thế là đài phải ngừng hoạt động, qua nhiều lần phục hồi trở nên rất tốn kém. Trong một lần làm việc với GS Phan Anh, lãnh đạo Đài TNVN nêu vấn đề tại sao ta không dùng máy phát FM công suất 10w đến 20w lắp vào các loa nén phần thu sóng FM. Nơi có điện lưới thì dùng điện, không có thì dùng ác quy cho máy phát và pin con thỏ cho đầu thu. Từ gợi ý này, GS Phan Anh đã thiết kế ra hệ thống truyền thanh không dây, vừa sử dụng tiện lợi, lâu bền… đem lại hiệu quả cao về mặt tuyên truyền…

Kể từ năm 1965 Ban Vận động thành lập Hội Vô tuyến-Điện tử Việt nam ra đời và tổ chức ngay cuộc thi lắp máy thu thanh transistor đơn giản để mở rộng diện thính giả đài phát sóng Mễ trì trong nhân dân, đến nay đã 50 năm Hội VT-ĐT VN đồng hành cùng Đài TNVN đã trở thành đôi bạn tâm giao cộng tác chặt chẽ để phát triển ngành phát thanh nước ta.

Tháng 12 năm 2015

Huỳnh Ngọc Ấn

Nguyên Phó Tổng Giám đốc Đài tiếng nói VN

Nguyên ủy viên BCH Hội VTĐT VN

Bạn cũng có thể thích

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *